|
Những đặc trưng trưng cơ bản của khu du lịch sinh thái: Mỗi một điểm du lịch nói chung, du lịch hồ ba bể nói riêng đều có 3 đặc trưng cơ bản nhất đó là: Tính giao thoa, chu trình sống và khả năng chịu tải. Tuy nhiên, đối với một khu vực phát triển DLST thì yếu tố bền vững là chủ đạo, vì vậy, khái niệm chu trình sống được đặt vào vị trí thứ yếu trong lãnh thổ DLST. Do đó, 2 đặc tính quan trọng trong lãnh thổ DLST mà ta cần chú ý là: tính giao thoa và khả năng chịu tải.
- Tính giao thoa hoá hợp nhưng độc lập tương đối
Đây là một đặc tính thể hiện sự kết hợp giữa 2 yếu tố: không gian du lịch và không gian kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương. Đặc tính này đòi hỏi sự phối kết hợp giữa công tác quản lý môi trường và công tác quản lý kinh tế xã hội tại điểm du lịch. Nếu không biết khai thác sử dụng đặc tính này có thể mang lại hậu quả ô nhiễm môi trường khu du lịch, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”. Ví dụ: việc xác định rác thải nào do dân địa phương thải ra lượng rác nào khách du lịch thải ra, điều đó thật khó xác định.
- Khả năng tải (sức chứa) của điểm du lịch
Khả năng tải là số lượng người cực đại mà HST ở khu du lịch có thể chấp nhận, không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đồng địa phương và du khách, không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa.
Từ khái niệm trên ta thấy, trong phát triển DLST khả năng tải là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó liên quan trực tiếp đến sự bền vững của khu du lịch và nó quyết định sự tồn tại của nền văn hoá bản địa. Khả năng tải của một điểm du lịch giải thích cho ta thấy một khu DLST chỉ chấp nhận một khối lượng khách và phương tiện chuyên trở nhất định. Ở đây ta xét đến 3 giá trị khả chịu năng tải:
- Khả năng chịu tải sinh thái
- Khả năng chịu tải xã hội
- Khả năng chịu tải kinh tế
Khả năng chịu tải sinh thái: Đó chính là áp lực sử dụng HST du lịch ở mức cực đại mà không xảy ra suy thoái, tức là bất cứ dấu hiệu suy thoái môi trường nào cũng đều chứng tỏ sự vượt quá ngưỡng của khả năng chịu tải. Có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về khả năng chịu tải sinh thái, nhưng về nội dung chúng không khác nhau.
Mathieson R.A và Wall (1992) xác định khả năng chịu tải sinh thái là “số lượng người có thể sử dụng khu du lịch mà không tạo ra một sự xuống cấp quá mức (không chấp nhận được) của môi trường tự nhiên”, còn Getz, 1983 cho rằng, khả năng tải sinh thái là “một giới hạn mà vượt qua đó, tài nguyên bắt đầu bị huỷ hoại”. Ví dụ các loài động thực vật hoang dại biến mất dưới áp lực của du lịch làm suy thoái habitat, các công trình kiến trúc bị xuống cấp đến mức hư hỏng…
Khả năng chịu tải xã hội: Là số lượng du khách tham gia hoạt động DLST được cộng đồng địa phương chấp nhận (chịu đựng được). Số lượng này tuỳ thuộc vào giới hạn chấp nhận của cộng đồng chứ không phải là số lượng du khách được lãnh thổ du lịch thu hút. Theo cách hiểu trên thì khả năng tải xã hội có thể tăng được thông qua chương trình giáo dục du khách, giáo dục cộng đồng.
Khả năng chấp nhận phát triển kinh tế: Là khả năng chấp nhận các chức năng du lịch mà không gây phương hại đến các hoạt động mà địa phương mong đợi (O‟ Reilly, 1986). Điều đó có nghĩa là hoạt động kinh tế địa phương có thể chấp nhận hoạt động DLST và không mâu thuẫn với hoạt động kinh tế mà DLST mang lại. Ngược lại các hoạt động DLST và nguồn kinh tế mà DLST mang lại có thể gây phương hại đến các hoạt động kinh tế khác của địa phương thì có nghĩa là đã vượt qua khả năng tải.
Ba giá trị trên được đảm bảo trong khuôn khổ thì một khu du lịch sẽ trở thành khu DLST và ngược lại một khu DLST thì bao giờ các yếu tố trên cũng phải nằm trong giới hạn của nó. Trong quy hoạch DLST luôn luôn phải đảm bảo 3 yếu tố này.
Theo GS TSKH Lê Huy Bá
|